Phân tích Nghị quyết 257/2025/QH15: Cơ chế quản lý vốn & Chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia 2026 – 2035

Phân tích Nghị quyết 257/2025/QH15: Cơ chế quản lý vốn và định hướng đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia 2026 – 2035

Ngày 11 tháng 12 năm 2025, Quốc hội đã chính thức thông qua Nghị quyết 257/2025/QH15 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia (CTMTQG) xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 – 2035. Đây là văn bản pháp lý quan trọng nhất, định hình dòng chảy của ngân sách nhà nướcvốn đầu tư công trong thập kỷ tới. Đối với các đơn vị tư vấn, nhà thầu và đặc biệt là bộ phận kiểm toán xây dựng, việc thấu hiểu các cơ chế đặc thù trong Nghị quyết này là điều kiện tiên quyết để đảm bảo tính tuân thủ và tối ưu hóa hiệu quả quản lý dự án.

Tổng quan Nghị quyết 257/2025/QH15 về Chương trình mục tiêu quốc gia 2026-2035

Nghị quyết 257/2025/QH15 không chỉ là một văn bản phê duyệt kinh phí, mà là một chiến lược tổng thể nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền. Chương trình được thực hiện trong thời gian dài từ năm 2026 đến hết năm 2035.

  • Mục tiêu tổng quát: Xây dựng nông thôn mới hiện đại, thích ứng với biến đổi khí hậu, phát triển kinh tế nông thôn theo hướng xanh, tuần hoàn và sinh thái.

  • Phạm vi thực hiện: Triển khai trên phạm vi cả nước, trong đó đặc biệt ưu tiên các xã, thôn đặc biệt khó khăn, vùng an toàn khu, biên giới và hải đảo.

  • Đối tượng thụ hưởng: Bao gồm cộng đồng dân cư, hộ gia đình (ưu tiên hộ nghèo, cận nghèo), hợp tác xã và doanh nghiệp trên địa bàn nông thôn.

Dưới góc nhìn pháp lý, Nghị quyết này tạo ra một khung hành lang cho phép lồng ghép nguồn lực của 03 chương trình lớn trước đây vào một đầu mối quản lý thống nhất, giúp giảm thiểu sự chồng chéo trong việc thực hiện các mục tiêu an sinh xã hội và đầu tư hạ tầng.

Bức tranh Ngân sách: Cơ cấu 423.000 tỷ đồng vốn đầu tư giai đoạn 2026 – 2030

Một trong những nội dung trọng tâm mà các nhà quản lý dự án cần lưu ý chính là quy mô nguồn lực. Căn cứ khoản 4 Điều 1 Nghị quyết 257/2025/QH15, tổng ngân sách nhà nước bố trí cho Chương trình giai đoạn 2026 – 2030 dự kiến khoảng 423.000 tỷ đồng. Cơ cấu nguồn vốn được phân định rạch ròi như sau:

  1. Ngân sách trung ương (100.000 tỷ đồng):

    • Vốn đầu tư công: 70.000 tỷ đồng dùng cho xây dựng hạ tầng thiết yếu.

    • Kinh phí thường xuyên: 30.000 tỷ đồng dùng cho các hoạt động sự nghiệp, đào tạo, và hỗ trợ sản xuất.

  2. Ngân sách địa phương (Khoảng 300.000 tỷ đồng): Đây là nguồn lực đối ứng quan trọng, đòi hỏi các tỉnh/thành phố phải có kế hoạch cân đối ngân sách chặt chẽ để thực hiện các mục tiêu đã cam kết với Trung ương.

  3. Vốn tín dụng chính sách (Khoảng 23.000 tỷ đồng): Nguồn vốn này do ngân sách nhà nước cấp để thực hiện các khoản vay ưu đãi thông qua hệ thống Ngân hàng Chính sách xã hội.

Nguyên tắc phân bổ vốn của Nghị quyết thể hiện tính kỷ luật cao: Ngân sách trung ương chỉ hỗ trợ các địa phương nhận bổ sung cân đối từ Trung ương, ưu tiên các địa phương nhận bổ sung từ 70% trở lên. Các địa phương tự cân đối được ngân sách phải hoàn toàn chịu trách nhiệm bố trí nguồn lực của mình để thực hiện mục tiêu Chương trình.

Phân tích 03 cơ chế quản lý vốn & Giải ngân mang tính đột phá

Để đẩy nhanh tiến độ và tháo gỡ các “nút thắt” pháp lý, Nghị quyết 257/2025/QH15 đã thiết lập các cơ chế đặc thù vượt trội so với quy định thông thường của Luật Đầu tư công và Luật Ngân sách nhà nước.

Nguyên tắc điều chỉnh kinh phí và chống dàn trải

Nhằm khắc phục tình trạng vốn chờ dự án, điểm a khoản 7 Điều 1 Nghị quyết cho phép các Bộ, cơ quan trung ương và Ủy ban nhân dân các cấp được quyền quyết định điều chỉnh kinh phí, vốn từ các nội dung, hoạt động đã hết nhiệm vụ chi để chuyển sang các nội dung khác thuộc Chương trình.

Điều kiện ràng buộc pháp lý ở đây là việc điều chỉnh không được vượt tổng mức và không làm thay đổi cơ cấu chi đầu tư, chi thường xuyên đã được cấp có thẩm quyền giao. Đối với đơn vị kiểm toán xây dựng, đây là điểm cần kiểm tra kỹ lưỡng để tránh việc sử dụng sai mục đích nguồn vốn đầu tư sang chi sự nghiệp hoặc ngược lại. Đồng thời, Nghị quyết yêu cầu các tỉnh phải rà soát, phân kỳ đầu tư, ưu tiên đầu tư tập trung, tuyệt đối không để xảy ra nợ đọng xây dựng cơ bản.

Quy định kéo dài thời gian giải ngân vốn ngân sách

Đây là cơ chế mang tính “giải cứu” đối với các dự án đang gặp vướng mắc về thủ tục hoặc giải phóng mặt bằng. Theo điểm b khoản 7 Điều 1, toàn bộ số vốn ngân sách nhà nước năm 2025 (bao gồm cả vốn các năm 2021, 2022, 2023, 2024 chuyển sang) của 03 CTMTQG cũ chưa giải ngân hết sẽ được kéo dài thời gian thực hiện, giải ngân đến hết ngày 31/12/2026.

Thậm chí, trường hợp không còn nhiệm vụ chi hoặc nhiệm vụ chi không thực hiện được, các đơn vị được phép sử dụng kinh phí còn lại để thực hiện các dự án thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia 2026-2035. Quy định này tạo sự linh hoạt tối đa cho việc giải ngân vốn, giúp các chủ đầu tư không bị áp lực “mất vốn” khi kết thúc năm tài chính, từ đó có thời gian để hoàn thiện hồ sơ chất lượng công trình.

Cơ chế đặc thù cho các dự án quy mô nhỏ, kỹ thuật đơn giản

Nghị quyết giao Chính phủ quy định chi tiết cơ chế đặc thù về tổ chức thực hiện các dự án đầu tư xây dựng quy mô nhỏ, tính chất kỹ thuật đơn giản, có sự tham gia của người dân.

Cơ chế này cho phép:

  • Giao cho chủ dự án phát triển sản xuất tự mua sắm hàng hóa.

  • Quản lý, sử dụng tài sản hình thành trong dự án hỗ trợ phát triển sản xuất theo quy trình đơn giản hóa.

  • Huy động cộng đồng tham gia thi công, giám sát nhằm giảm chi phí quản lý và tăng tính bền vững cho công trình.

Góc nhìn chuyên gia: Lưu ý quan trọng cho công tác Kiểm toán xây dựng và Quản lý dự án

Nghị quyết 257/2025/QH15 mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng tiềm ẩn không ít rủi ro về quản trị rủi ro pháp lý. Các đơn vị thực hiện cần đặc biệt lưu ý 03 vấn đề sau:

  1. Rủi ro khi áp dụng cơ chế tự mua sắm: Việc giao cho chủ dự án (có thể là tổ hợp tác hoặc hộ dân) tự mua sắm hàng hóa (theo điểm c khoản 7 Điều 1) dễ dẫn đến tình trạng không chứng minh được tính cạnh tranh về giá hoặc thiếu hóa đơn, chứng từ hợp lệ theo quy định tài chính. Khi kiểm toán xây dựng, các kiểm toán viên sẽ tập trung vào việc so sánh đơn giá tự mua sắm với giá thị trường và tính thực tế của hàng hóa được bàn giao.

  2. Quản lý tài sản hình thành từ dự án: Các tài sản (máy móc, trang thiết bị, hạ tầng nhỏ) hình thành từ nguồn hỗ trợ sản xuất cần có hồ sơ theo dõi chặt chẽ. Nếu không có quy chế quản lý tài sản sau đầu tư rõ ràng, tài sản rất dễ bị hư hỏng hoặc thất thoát, gây lãng phí ngân sách nhà nước.

  3. Kiểm soát nợ đọng xây dựng cơ bản (XDCB): Nghị quyết đã ghi rõ yêu cầu không để xảy ra nợ đọng XDCB. Điều này đòi hỏi các chủ đầu tư phải thực hiện nghiệm thu và thanh toán đúng tiến độ hợp đồng. Các tỉnh thành phải chịu trách nhiệm hoàn toàn nếu phê duyệt dự án vượt quá khả năng cân đối vốn địa phương.

Ngoài ra, việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và xây dựng cơ sở dữ liệu hệ thống thông tin quản lý Chương trình (khoản 6 Điều 1) sẽ là công cụ đắc lực để minh bạch hóa quá trình thực hiện dự án.

Kết luận

Nghị quyết 257/2025/QH15 là một văn bản pháp lý mang tính đột phá, thể hiện quyết tâm của Quốc hội trong việc tối ưu hóa hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công giai đoạn 2026 – 2035. Với quy mô ngân sách lên tới 423.000 tỷ đồng cho giai đoạn 5 năm đầu tiên, áp lực về tiến độ giải ngân vốn và chất lượng công trình là rất lớn.

Để triển khai hiệu quả, các địa phương và chủ đầu tư cần bám sát các cơ chế đặc thù về điều chỉnh kinh phí và kéo dài thời gian giải ngân vốn. Đồng thời, công tác kiểm toán xây dựng cần được thực hiện thường xuyên để kịp thời ngăn chặn các biểu hiện tiêu cực, lãng phí, đảm bảo mỗi đồng ngân sách nhà nước bỏ ra đều mang lại giá trị thực chất cho người dân vùng khó khăn.


Hy vọng bài phân tích này mang lại những thông tin hữu ích cho công tác quản lý và kiểm toán của quý độc giả tại kiemtoanxaydung.vn.

📥 [TẢI VỀ TOÀN VĂN Nghị quyết 257/2025/QH15 TẠI ĐÂY]


TRUNG TÂM ĐÀO TẠO & TƯ VẤN QUYẾT TOÁN VỐN ĐẦU TƯ PHAN ANH FIRM

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *